Case study thuộc tài liệu Tập huấn của Hiệp hội các Nhà thầu xây dựng Việt Nam (2024), được trình bày bởi LS. Vũ Ánh Dương (Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng Thư ký VIAC).
Vụ tranh chấp liên quan đến việc Chủ đầu tư không phản hồi chính thức về việc:
chấp thuận hay không chấp thuận nghiệm thu
Tình huống:
Nguyên đơn (Nhà thầu) và Bị đơn (Chủ đầu tư) đã ký kết hợp đồng thi công hạng mục công tác điện cho các công trình của Bị đơn.
Sau khi hoàn thành công việc được giao thầu, Nhà thầu đã chuyển giao trực tiếp cho Chủ đầu tư Hồ sơ quyết toán với số lượng, hình thức và nội dung đầy đủ theo thỏa thuận của các Bên về điều kiện thanh toán đợt cuối.
Tuy nhiên, Chủ đầu tư không có bất cứ phản hồi chính thức nào cho Nguyên đơn về việc chấp thuận hay không chấp thuận việc nghiệm thu, bàn giao công trình cũng như Hồ sơ quyết toán của Nguyên đơn.
Câu hỏi:
1. Nguyên đơn có cơ sở để khởi kiện Bị đơn hay không?
Căn cứ BLTTDS 2015 Điều 68.2 quy định: "2. Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.".
Như vậy, trong trường hợp này, Chủ đầu tư không có bất kỳ phản hồi chính thức nào cho Nhà thầu về việc chấp thuận hay không chấp thuận việc nghiệm thu, bàn giao công trình cũng như Hồ sơ quyết toán của Nhà thầu, chính là đã và đang xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà thầu, lúc này Nhà thầu có quyền khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình.
2. Nguyên đơn cần phải làm gì khi Bị đơn không nghiệm thu công trình?
Để đưa ra giải pháp cho vấn đề này, Nhà thầu cần lưu ý các căn cứ pháp lý liên quan đến vấn đề nghiệm thu, bàn giao công trình, như sau:
"2. Hạng mục công trình, công trình xây dựng hoàn thành chỉ được phép đưa vào khai thác, sử dụng sau khi được nghiệm thu bảo đảm yêu cầu của thiết kế xây dựng, tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật cho công trình, quy định về quản lý sử dụng vật liệu xây dựng và được nghiệm thu theo quy định của Luật này.
3. Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng. Tổ chức, cá nhân tham gia nghiệm thu chịu trách nhiệm về sản phẩm do mình xác nhận khi nghiệm thu công trình xây dựng."
"1. Việc bàn giao công trình xây dựng phải tuân thủ các quy định sau:
a) Đã thực hiện nghiệm thu công trình xây dựng theo đúng quy định của pháp luật về xây dựng;
b) Bảo đảm an toàn trong vận hành, khai thác khi đưa công trình vào sử dụng;
c)[152] Đối với dự án đầu tư xây dựng khu đô thị, có thể bàn giao toàn bộ hoặc một số công trình thuộc dự án để đưa vào sử dụng nhưng trước khi bàn giao phải hoàn thành đầu tư xây dựng bảo đảm đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội theo phân kỳ đầu tư, thiết kế xây dựng đã được phê duyệt, bảo đảm kết nối với hạ tầng kỹ thuật chung của khu vực, phù hợp với nội dung dự án và quy hoạch đã được phê duyệt.
2. Chủ đầu tư có trách nhiệm tiếp nhận công trình theo đúng hợp đồng đã ký kết với nhà thầu. Người tham gia bàn giao công trình phải chịu trách nhiệm về sản phẩm do mình xác nhận trong quá trình bàn giao công trình xây dựng. Trường hợp chủ đầu tư không đồng thời là người quản lý sử dụng công trình thì chủ đầu tư có trách nhiệm bàn giao công trình xây dựng cho chủ quản lý sử dụng công trình sau khi đã tổ chức nghiệm thu công trình xây dựng. Việc bàn giao công trình xây dựng phải được lập thành biên bản.
3. Khi bàn giao công trình xây dựng, nhà thầu thi công xây dựng phải giao cho chủ đầu tư các tài liệu gồm bản vẽ hoàn công, quy trình hướng dẫn vận hành, quy trình bảo trì công trình, danh mục các thiết bị, phụ tùng, vật tư dự trữ thay thế và các tài liệu cần thiết khác có liên quan."
1. Bên nhận thầu có trách nhiệm quyết toán hợp đồng xây dựng với bên giao thầu phù hợp với loại hợp đồng và hình thức giá hợp đồng áp dụng. Nội dung quyết toán hợp đồng xây dựng phải phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng.
2. Thời hạn thực hiện quyết toán hợp đồng xây dựng do các bên thỏa thuận. Riêng đối với hợp đồng xây dựng sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công[174], thời hạn quyết toán hợp đồng không vượt quá 60 ngày, kể từ ngày nghiệm thu hoàn thành toàn bộ công việc của hợp đồng, bao gồm cả phần công việc phát sinh (nếu có). Trường hợp hợp đồng xây dựng có quy mô lớn thì được phép kéo dài thời hạn thực hiện quyết toán hợp đồng nhưng không vượt quá 120 ngày.
3. Hợp đồng xây dựng được thanh lý trong trường hợp sau:
a) Các bên đã hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng;
b) Hợp đồng xây dựng bị chấm dứt hoặc hủy bỏ theo quy định của pháp luật.
4. Thời hạn thanh lý hợp đồng xây dựng do các bên hợp đồng thỏa thuận. Đối với hợp đồng xây dựng sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công[175], thời hạn thanh lý hợp đồng là 45 ngày kể từ ngày các bên hợp đồng hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng hoặc hợp đồng bị chấm dứt theo quy định tại khoản 2 Điều 145 của Luật này. Đối với hợp đồng xây dựng có quy mô lớn, việc thanh lý hợp đồng có thể được kéo dài nhưng không quá 90 ngày."
Dựa trên các quy định của pháp luật xây dựng, việc nghiệm thu công trình xây dựng, và thực hiện thanh lý hợp đồng có ràng buộc trách nhiệm đối với Chủ đầu tư. Tuy nhiên, trong tình huống trên, Chủ đầu tư không có bất kỳ phản hồi chính thức nào cho Nhà thầu về việc chấp thuận hay không chấp thuận việc nghiệm thu, bàn giao công trình cũng như Hồ sơ quyết toán của Nhà thầu, đây là hành vi trốn tránh trách nhiệm nghiệm thu, quyết toán, thanh toán cho Nhà thầu.
Để bảo vệ quyền lợi của mình, trước khi đưa tranh chấp ra giải quyết tại cơ quan tài phán (Tòa án, Trọng tài), Nhà thầu cần có các thông báo yêu cầu Chủ đầu tư thực hiện nghĩa vụ của mình trong một thời hạn nhất định; nếu quá thời hạn đó thì phải chịu trách nhiệm pháp lý như thế nào.
Việc đưa ra các thông báo đơn phương như vậy cần làm tăng tiến mức độ nghiêm trọng của việc yêu cầu Chủ đầu tư thực hiện nghĩa vụ. Theo kinh nghiệm cá nhân của tôi, mỗi yêu cầu không được hồi đáp cần gửi tối thiểu 03 thông báo, mỗi thông báo có thời hạn phản hồi từ 07-15 ngày hoặc một khoảng thời gian khác phù hợp với yêu cầu thực hiện nghĩa vụ.
Trách nhiệm pháp lý khi không phản hồi mà Chủ đầu tư phải gánh chịu, ví dụ: chấp nhận toàn bộ việc nghiệm thu, bàn giao của nhà thầu; chấp nhận toàn bộ giá trị quyết toán đề nghị thanh toán của nhà thầu.
"1. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ do các bên thỏa thuận, theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
Trường hợp bên có nghĩa vụ đã tự ý thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn và bên có quyền đã chấp nhận việc thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được coi là đã hoàn thành đúng thời hạn.
3. Trường hợp không xác định được thời hạn thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều này thì mỗi bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ vào bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý."
Việc đưa ra các thông báo đơn phương này là sự chuẩn bị tốt nhất trong phạm vi quyền hạn của Nhà thầu trong trường hợp Chủ đầu tư chậm trễ thực hiện nghĩa vụ và không có sự thiện chí trong việc xác nhận các hồ sơ đã hoàn thành. Mặc dù việc đưa ra các yêu cầu đơn phương này, sẽ bị xem xét lại bởi cơ quan Tài phán khi giải quyết tranh chấp, nhưng đó là bằng chứng chứng minh sự nỗ lực và thiện chí của bên bị vi phạm đối với bên bị vi phạm, và trong nhiều trường hợp nó là cơ sở để đáp ứng điều kiện để khởi kiện; thậm chí là mốc xác định tính các chi phí bồi thường thiệt hại có liên quan (lãi chậm trả, lãi quá hạn...).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét