Vụ tranh chấp liên quan đến điều khoản phạt hợp đồng.
Tình huống 2:
Hợp đồng thi công xây dựng, Điều 10.4 quy định: “Phạt chậm thanh toán: Bất kỳ đợt thanh toán chậm nào cũng không được quá 30 ngày kể từ ngày hết hạn thanh toán theo quy định tại Điều 6 của Hợp đồng. Nếu quá thời hạn 30 ngày nêu trên, Bên A sẽ phải trả cho Bên B khoản lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất huy động của Ngân hàng Vietcombank – chi nhánh TP. Hồ Chí Minh tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.”
Yêu cầu của nguyên đơn:
1. Buộc bị đơn trả tiền gốc còn nợ lại là: 8.607.995.029 VND + 17.454.885.796 VND + 10.642.786.821 VND = 36.705.667.646 VND
2. Buộc bị đơn thanh toán cho nguyên đơn “tiền phạt do vi phạm nghĩa vụ thanh toán là 2.936.453.412 VND” với “mức phạt theo Điều 301 Luật thương mại là 8%” trên số tiền “còn lại phải thu 36.705.667.646 VND”.
3. Buộc bị đơn trả tiền lãi chậm trả cho vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo mức lãi suất 12%/năm (tính đến ngày 10/5/2023 là 18.014.087.372 VND) và thù lao luật sư là 330.000.000 VND.
Câu hỏi:
1. Anh/ chị hiểu điều khoản nêu trên như thế nào?
- Các đợt thanh toán chỉ được chậm thanh toán tối đa là 30 ngày kể từ ngày đến hạn thanh toán.
- Nếu Bên A chậm thanh toán quá 30 ngày, thì Bên A sẽ phải chịu phạt chậm thanh toán.
- Tiền phạt chậm thanh toán được tính trên lãi suất huy động của Ngân hàng Vietcombank – chi nhánh TP. Hồ Chí Minh tại thời điểm thanh toán.
2. Nguyên đơn có cơ sở để đòi tiền phạt hợp đồng hay không?
Đối với yêu cầu trả lãi phạt vi phạm
Theo quy định tại BLDS 2015, Điều 418.1 và 2 Thỏa thuận phạt vi phạm:
“1. Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.
2. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác."
Áp dụng vào vụ việc nêu trên, chúng ta hiểu rằng, nguyên đơn chỉ có thể đòi tiền phạt nếu có quy định phạt vi phạm, và tuân thủ đúng theo quy định phạt trong hợp đồng.
Hợp đồng quy định tiền phạt chậm thanh toán được tính trên lãi suất huy động của Ngân hàng Vietcombank – chi nhánh TP. Hồ Chí Minh tại thời điểm thanh toán.Nhưng nguyên đơn tính phạt chậm trả trên lãi suất của Luật thương mại Điều 301 chứ không phải lãi suất của ngân hàng Vietcombank – chi nhánh TP. Hồ Chí Minh.
Do đó, yêu cầu của nguyên đơn phạt theo mức phạt tại Điều 301 Luật thương mại không tuân thủ điều khoản phạt trong hợp đồng, do đó sẽ không được chấp nhận.
Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại: trả lãi chậm trả
Theo quy định tại BLDS 2015, Điều 418.3 Thỏa thuận phạt vi phạm: "3. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.”
Trường hợp hợp đồng không có quy định nào khác về bồi thường thiệt hại, không có thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại, chỉ có quy định về phạt vi phạm như trên, tham chiếu với điều khoản trên, bên vi phạm (bị đơn) sẽ chỉ phải chịu phạt vi phạm (chịu phạt chậm thanh toán). Hay nói cách khác, yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải chịu bồi thường thiệt hại sẽ không được được chấp thuận.
Tuy nhiên, theo quy định của BLDS 2015, Điều 360. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ: "Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác." Nghĩa là nếu có thiệt hại thực tế xảy ra đối với bên bị vi phạm, thì bên vi phạm nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại. Do đó, trong trường hợp bảo vệ quyền lợi của nguyên đơn theo nguyên tắc công bằng, thì việc nguyên đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại - tính lãi chậm trả,
Mở rộng: Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm nghĩa vụ thanh toán là bồi thường phần lãi chậm thanh toán, lãi suất theo thỏa thuận của các Bên. Trường hợp các Bên không có thỏa thuận, thì áp dụng theo Luật xây dựng và hoặc Bộ luật dân sự, tùy trường hợp:
- Đối với các hợp đồng sử dụng vốn Nhà nước và vốn ODA: áp dụng Nghị định 37/2015/NĐ-CP Điều 43.2 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng xây dựng:
“Trường hợp, bên giao thầu thanh toán không đúng thời hạn và không đầy đủ theo thỏa thuận trong hợp đồng thì phải bồi thường cho bên nhận thầu theo lãi suất quá hạn do ngân hàng thương mại nơi bên nhận thầu mở tài khoản thanh toán công bố tương ứng với các thời kỳ chậm thanh toán.”
- Đối với các hợp đồng không sử dụng vốn Nhà nước và vốn ODA: áp dụng BLDS 2015 Điều 468. Lãi suất:
“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/ năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”
=> Áp dụng mức lãi suất 10%/năm của khoản nợ.
3. Hợp đồng chịu sự điều chỉnh của luật nào?
Căn cứ Điều 138 Luật xây dựng 2014 quy định: “1. Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự được thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng”. Do đó, xác định Luật điều chỉnh đối với Hợp đồng xây dựng là Luật xây dựng, trong trường hợp pháp luật chuyên ngành không có quy định điều chỉnh thì áp dụng pháp luật dân sự.
(Tham khảo thêm các ví dụ tại bài (#2))
Sửa đổi điều khoản tránh rủi ro cho Nhà thầu:
Để áp dụng chế tài phạt vi phạm các Bên phải quy định rất rõ trong hợp đồng, nếu quy định chung chung, mơ hồ, sẽ khó áp dụng trên thực tế. Do đó, có thể quy định rõ mức phạt chậm thanh toán, ví dụ 0,01% / ngày chậm thanh toán thay vì ghi mức lãi suất của ngân hàng xxx tại thời điểm chậm thanh toán như tình huống nêu trên.
Ngoài ra, để tránh trường hợp xung đột về áp dụng pháp luật trong trường hợp yêu cầu bồi thường thiệt hại như ở BLDS 2015, Điều 148.3 và Điều 360 nêu trên, cần quy định bổ sung thêm nội dung ngoài phạt vi phạm, còn phải bồi thường các thiệt hại phát sinh cho Bên bị vi phạm.
Do đó, Điều khoản phạt vi phạm này có thể điều chỉnh như sau:
“Phạt chậm thanh toán và bồi thường thiệt hại: Bất kỳ đợt thanh toán chậm nào cũng không được quá 30 ngày kể từ ngày hết hạn thanh toán theo quy định tại Điều 6 của Hợp đồng. Nếu quá thời hạn 30 ngày nêu trên, Bên A chịu phạt với lãi suất 0,01% giá trị chậm thanh toán/01 ngày chậm thanh toán nhân với thời gian chậm trả tương ứng; đồng thời bồi thường toàn bộ các thiệt hại phát sinh (nếu có).”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét