Chủ Nhật, 26 tháng 12, 2021

Câu chuyện nghỉ việc (phần 1)

Nhân dịp có người hỏi như thế này: "Cán bộ nhân viên (CBNV) tự ý nghỉ việc và không thực hiện bàn giao trước khi nghỉ (trong đó có cả trường hợp CBNV nghỉ không lý do hoặc/ và CBNV nghỉ có đơn nhưng không thực hiện theo đúng thời gian nghỉ việc theo quy định). Nếu Công ty giữ lương và sổ bảo hiểm của CBNV này thì hậu quả pháp lý như thế nào? Có biện pháp nào để giảm thiểu rủi ro cho Doanh nghiệp không?" mình nghĩ nên viết một bài chia sẻ về vấn đề này.

Trong tình huống trên, khái niệm "tự ý nghỉ việc" được hiểu là "người lao động (NLĐ) đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ)". Đơn phương chấm dứt HĐLĐ như thế nào là đúng luật và như thế nào là trái pháp luật? Trong tình huống trên, Doanh nghiệp - người sử dụng lao động (NSDLĐ) ngầm định các hành vi "tự ý nghỉ việc không lý do và/ hoặc nghỉ có đơn (nghỉ việc) nhưng không thực hiện đúng thời gian nghỉ việc theo quy định" - không tuân thủ thời gian báo trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và "không thực hiện bàn giao khi nghỉ việc" - không thực hiện bàn giao (công việc, tài sản, công cụ lao động...) trước khi chấm dứt HĐLĐ đều thuộc trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật. Vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ được quy định như thế nào? 

NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ được quy định tại Điều 35 Bộ luật lao động 2019, cụ thể như sau:

"Điều 35. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động
1. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau:
a) Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
b) Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
c) Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng;
d) Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
2. Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây:
a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này;
b) Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này;
c) Bị người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động;
d) Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
đ) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này;
e) Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;
g) Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động."
"Điều 39. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật 
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 35, 36 và 37 của Bộ luật này." 

Như vậy, NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật là trường hợp NLĐ nghỉ việc không tuân thủ thời gian báo trước (trừ trường hợp đặc biệt được Pháp luật quy định cụ thể). Khi đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật, NLĐ có nghĩa vụ như sau: 

"1. Không được trợ cấp thôi việc.
2. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động (“NSDLĐ”) nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
3. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này”.

(Bộ luật lao động 2019, tại Điều 40)

Ngoài quy định này, tại các văn bản hướng dẫn thi hành cũng không có quy định nào khác về nghĩa vụ của NLĐ phải bàn giao công việc trước khi nghỉ việc. Do đó, nếu không có quy định khác ràng buộc trách nhiệm bàn giao trước khi nghỉ việc, thì hành vi không thực hiện bàn giao khi nghỉ việc không trái quy định của pháp luật lao động.

Mặc dù pháp luật hiện hành không quy định nghĩa vụ bàn giao trước khi nghỉ việc đối với NLĐ, tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 5 Bộ luật Lao động 2019 thì NLĐ có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng lao đồng, thỏa ước lao động tập thể (TULĐ) và thỏa thuận hợp pháp khác.

"2. Người lao động có các nghĩa vụ sau đây:

a) Thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và thỏa thuận hợp pháp khác;

b) Chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động; tuân theo sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động;

c) Thực hiện quy định của pháp luật về lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động."

Theo quy định trên, nếu trong HĐLĐ hoặc/và TULĐ hoặc/ và có thỏa thuận khác về việc bàn giao trước khi nghỉ việc, thì lúc này "bàn giao trước khi nghỉ việc" trở thành một nghĩa vụ bắt buộc đối với NLĐ. Nếu vi phạm nghĩa vụ này, NLĐ sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý như: bị xử lý kỷ luật lao động và chịu trách nhiệm vật chất theo quy định tại Bộ luật lao động, Chương VIII - Kỷ luật lao động, Trách nhiệm vật chất (Điều 117 đến Điều 131).

Tóm lại, đối với hành vi của NLĐ trong tình huống trên, chỉ có hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (tự ý nghỉ việc/ nghỉ việc có đơn (xin nghỉ việc) nhưng không tuân thủ thời gian báo trước) là trái pháp luật. Còn hành vi không bàn giao trước khi nghỉ việc thì chưa đủ căn cứ để khẳng định có trái pháp luật hay không.

Vấn đề tiếp theo liên quan đến hành vi giữ lương và giữ sổ bảo hiểm của người lao động mà NSDLĐ đang thực hiện như một biện pháp để buộc NLĐ thực hiện bàn giao. Các hành vi này vi phạm quy định pháp luật, và sẽ chịu chế tài xử phạt vi phạm hành chính, cụ thể như sau:

Đối với hành vi giữ lương của người lao động quá thời hạn thanh toán theo quy định tại Khoản 1 Điều 48 Bộ luật lao động 2019:

"1. Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp sau đây có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày:

a) Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động;

b) Người sử dụng lao động thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế;

c) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

d) Do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm."

sẽ bị xử phạt theo quy định tại Khoản 1 Điều 11[Vi phạm quy định về sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng lao động] thuộc Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/03/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng: 

"1. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi: Sửa đổi quá một lần thời hạn hợp đồng lao động bằng phụ lục hợp đồng lao động hoặc khi sửa đổi thời hạn hợp đồng lao động bằng phụ lục hợp đồng lao động làm thay đổi loại hợp đồng lao động đã giao kết trừ trường hợp kéo dài thời hạn hợp đồng lao động với người lao động cao tuổi và người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật Lao động; không thực hiện đúng quy định về thời hạn thanh toán các khoản về quyền lợi của người lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động;  không trả hoặc trả không đủ tiền trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định của pháp luật; không trả hoặc trả không đủ tiền bồi thường cho người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật; không hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại những giấy tờ khác đã giữ của người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
b) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;
c) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;
d) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;
đ) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên."

Đối với hành vi giữ sổ BHXH cho NLĐ, vi phạm nghĩa vụ của NSDLĐ tại Điểm a Khoản 3 Điều 48 Bộ luật lao động 2019:

"3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm sau đây:

a) Hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động;"

sẽ phải bị xử phạt theo quy định tại điểm d Khoản 4 Điều 40 [Vi phạm các quy định khác về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp] Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ngày 01/03/2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng:

“4. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng khi vi phạm với mỗi người lao động nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

d) Không trả sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định tại khoản 5 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội .”

Tóm lại, đối với hành vi giữ lương và sổ bảo hiểm của NLĐ để buộc NLĐ thực hiện việc bàn giao là hành vi trái pháp luật lao động và có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Thay vì biện pháp giữ lương, sổ BHXH của NLĐ, NSDLĐ cần phải thực hiện đúng quy trình xử lý kỷ luật lao đông, trách nhiệm vật chất đối với NLĐ. Phần xử lý kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất này, tôi sẽ trình bày tại phần 2 của series này.

(Bài viết này cũng được đăng tải trên blog cá nhân khác của tôi)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét