Bài tóm tắt số 2 trong chuỗi bài "tập đọc" sách Pháp chế doanh nghiệp của Luật sư Lê Văn Dụng, tôi lựa chọn chủ đề "mượn" chi nhánh. Dù đã đọc đến bài số 2 rồi, nhưng trình độ thẩm thấu của tôi vẫn còn khá chậm chạp, tôi đọc mấy lần mới tóm tắt được mấy dòng sau đây. Trái ngược với sự "xanh lè", "non choẹt" của bản thân, thì chủ đề bài đọc lần này rất hay và hấp dẫn với nhiều câu hỏi pháp lý khiến người đọc phải mò mẫm trong những điều - khoản - điểm của Bộ luật dân sự, lao động, và thương mại.
Sau khi bạn đã đọc hiểu các nội dung trong disclaimer tôi đã viết ở bài tóm tắt số 1 về "Chuyện họp hành", chúng ta bắt đầu với bài số 2 - "Mượn chi nhánh" nhé.
Tình huống pháp lý: A là người muốn mượn thương hiệu của công ty B (sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu của công ty B) để kinh doanh theo hình thức mở chi nhánh (“mượn chi nhánh”), A tự đưa vốn vào kinh doanh ở chi nhánh này. Là pháp chế cho công ty B, hãy tư vấn giải quyết tình huống này để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho công ty B.
Yêu cầu pháp lý đối với pháp chế:
- Yêu cầu 1: Tư vấn về phương án giải quyết công việc
- Yêu cầu 2: Tư vấn thủ tục thực hiện công việc
- Yêu cầu 3: Trực tiếp thực hiện công việc
Giải quyết từng yêu cầu như sau:
Yêu cầu 1: Tư vấn về phương án giải quyết công việc
- Có nên cho người khác mượn tư cách chi nhánh để kinh doanh không?
- Nếu cho mượn thì kiểm soát rủi ro như thế nào?
- Nếu không cho mượn thì có phương án khác thay thế không?
- Phương án thay thế là gì? Ưu điểm, hạn chế của phương án đó so với việc cho mượn chi nhánh là gì?
(1) Quan hệ pháp lý của chi nhánh và công ty(2) Chuyển giao nghĩa vụ pháp lý(3) Vốn hoạt động kinh doanh của chi nhánh(4) Giải pháp thay thế bằng thành lập công ty mới(5) Giải pháp thay thế bằng việc nhượng quyền thương mại
Giải quyết từng vấn đề pháp lý cụ thể như sau:
(1) Quan hệ pháp lý của chi nhánh và công ty
Khoản 1 Điều 44 Luật doanh nghiệp 2020:
“Chi nhánh là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp kể cả chức năng đại diện theo ủy quyền. Ngành nghề kinh doanh của chi nhánh phải đúng với ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp.”Điều 84, Bộ luật dân sự 2015:
“1. Chi nhánh … là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân.2. Chi nhánh có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của pháp nhân…5. Người đứng đầu chi nhánh … thực hiện nhiệm vụ theo ủy quyền của pháp nhân trong phạm vi và thời hạn được ủy quyền.6. Pháp nhân có quyền, nghĩa vụ dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do chi nhánh … xác lập, thực hiện.”Khoản 3 Điều 213 Luật doanh nghiệp 2020:
“Doanh nghiệp có chi nhánh đã chấm dứt hoạt động chịu trách nhiệm thực hiện các hợp đồng, thanh toán các khoản nợ, gồm cả nợ thuế của chi nhánh và tiếp tục sử dụng lao động đã làm việc tại chi nhánh theo quy định của pháp luật.”=> Giao dịch do chi nhánh xác lập làm phát sinh quyền và nghĩa vụ cho công ty:
+ Tài sản được tạo lập tại chi nhánh là của công ty, bao gồm các khoản lợi nhuận có được từ việc kinh doanh+ Nghĩa vụ tài sản từ thuế, bảo hiểm, nợ vay, nghĩa vụ thanh toán từ hợp đồng kinh tế, hợp đồng lao động,… do chi nhánh xác lập, công ty có nghĩa vụ thực hiện khi chi nhánh không còn khả năng tự thực hiện nghĩa vụ (chấm dứt hoạt động).(2) Chuyển giao nghĩa vụ pháp lý
- Hạch toán độc lập là một phương pháp hạch toán sổ sách kế toán, có sổ sách kế toán riêng, báo cáo tài chính riêng. Chi nhánh hạch toán độc lập thực hiện việc hạch toán chi phí riêng và nộp tiền thuế riêng cho hoạt động của mình, nhưng theo quy định của pháp luật hiện hành, phương pháp hạch toán độc lập không làm giảm bớt, miễn trừ trách nhiệm của pháp nhân đối với mọi nghĩa vụ, trách nhiệm của chi nhánh hạch toán độc lập của mình.- Cách nào để chuyển giao nghĩa vụ pháp lý của công ty (pháp nhân) đối với chi nhánh cho “cá nhân mượn chi nhánh” (sau đây gọi tắt là “A”)?
+ A ký cam kết chịu trách nhiệm cho hoạt động của chi nhánh: cam kết chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thay cho công ty đối với các nghĩa vụ tài sản của chi nhánh.+ Để đảm bảo cho việc thực hiện cam kết của A, có các biện pháp đảm bảo có thể xem xét, cân nhắc: bảo lãnh (Điều 335 BLDS 2015); ký quỹ (Điều 330 BLDS 2015); thế chấp tài sản (Điều 317 BLDS 2015);+ Lưu ý: trường hợp A đảm nhận vị trí người đứng đầu chi nhánh – Giám đốc chi nhánh, nếu 2 bên phát sinh quan hệ hợp đồng lao động, thỏa thuận về biện pháp đảm bảo thực hiện cam kết của A có thể vi phạm điều cấm của luật – khoản 2 Điều 17 BLLĐ 2019 – công ty không được “yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động”.(3) Vốn hoạt động kinh doanh của chi nhánh
A tự lo vốn để chi nhánh kinh doanh, phương thức đưa vốn vào doanh nghiệp như thế nào?+ Chi nhánh vay tiền của A => phát sinh nghĩa vụ trả nợ của chi nhánh (hay của chính công ty) đối với A.+ Có phương án khác không? Phương án đó là gì?+ Trường hợp chi nhánh kinh doanh có lãi, A muốn rút lợi nhuận thì phải làm thế nào?=> Các vấn đề liên quan đến dòng tiền, chứng từ, chi phí, thuế phát sinh từ giao dịch … liên quan đến phương thức đưa vốn vào chi nhánh, rút lợi nhuận phải được tư vấn bởi chuyên gia tài chính doanh nghiệp/ kế toán của công ty. Pháp chế chỉ thẩm định các vấn đề pháp lý, hỗ trợ thiết lập các giao dịch, hình thành các thỏa thuận hợp đồng để các bên giao kết, giúp tài sản, dòng tiền được lưu chuyển phù hợp với quy định của pháp luật.
(4) Giải pháp thay thế bằng thành lập công ty mới
Do A tự lo vốn kinh doanh và A muốn sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu của công ty B, cho nên có thể lựa chọn giải pháp A và Công ty B cùng góp vốn để thành lập công ty mới, khi đó, vốn của công ty mới bao gồm:+ Phần vốn góp của A;+ Phần vốn góp của công ty B (được A tài trợ cho công ty B)
=> Công ty mới được thành lập là pháp nhân độc lập với công ty B, ko còn rủi ro tiềm ẩn như việc thành lập chi nhánh.
Cần lưu ý khi thành lập công ty mới:
+ Tên thương mại sử dụng: hình thức pháp lý để công ty mới sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu của công ty B để khai thác kinh doanh;+ Quan hệ tài trợ vốn, góp vốn cần phải tập trung giải quyết để đạt được sự an toàn nhất định cho công ty.
(5) Giải pháp thay thế bằng việc nhượng quyền thương mại
A muốn sử dụng tên thương mại, nhãn hiệu của công ty B để giao dịch, có thể lựa chọn phương án “nhượng quyền thương mại”.
Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó, bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:(i) việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định, được gắn với nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;(ii) bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh(Điều 284 Luật thương mại 2005)
=> Các vấn đề pháp lý đối với các Bên:
- Bên nhượng quyền (Công ty B): phải đảm bảo đầy đủ các điều kiện pháp lý mà pháp luật có yêu cầu đối với bên nhượng quyền;
- Bên nhận nhượng quyền: A phải thành lập doanh nghiệp để nhận nhượng quyền (cử người quản lý, điều hành, tổ chức đơn vị kế toán, tổ chức các hoạt động kinh doanh độc lập với công ty B).
- Quan hệ hợp đồng chuyển nhượng, cần lưu ý đến nội dung về tiền chuyển nhượng. Trường hợp, cty B vì lý do nào đó hỗ trợ A, có thể ghi trong hợp đồng 1 khoản thanh toán tượng trưng, hoặc thỏa thuận miễn tiền này trong một khoảng thời gian, hoặc đưa ra các điều kiện chi trả (kinh doanh có lãi ở mức nào đó mới phải trả tiền chuyển nhượng),…
Yêu cầu 2: Tư vấn thủ tục thực hiện công việc
Yêu cầu 3: Trực tiếp thực hiện công việc
- Tùy phương án giải quyết được lựa chọn, pháp chế cần thực hiện các thủ tục hành chính để thành lập chi nhánh/ hỗ trợ thành lập doanh nghiệp mới/ soạn thảo hoặc rà soát hợp đồng nhượng quyền.
---
Tôi sẽ tìm hiểu về trình tự thủ tục để thành lập chi nhánh, thành lập doanh nghiệp, hợp đồng nhượng quyền, và hứa sẽ viết bài về các chủ đề này trong thời gian sớm nhất.
(to be continued)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét